• Tiếng Việt
  • English
  • 中文
  • Français
  • 日本語
  • 한국어
  • Español
  • Русский
  • Deutsch
  • ไทย
  • ລາວ
  • हिन्दी
  • Português

Một số biện pháp giúp trẻ 3 4 tuổi học tốt môn văn học theo hướng đổi mới

4/4/2022, 20:30
Lượt đọc : 1.311
Chia sẻ tin bài

 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

     1. CƠ SỞ LÝ LUẬN

     Như chúng ta đã biết, nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống. Nó thức tỉnh và phát triển tâm hồn con người. Văn học là một loại hình nghệ thuật mang tính sáng tạo gần gũi gắn bó mật thiết với cuộc sống của con người từ thủa ấu thơ, nó phản ánh cuộc sống và thế giới xung quanh chúng ta thông qua các bài ca dao, đồng dao, bài thơ, câu chuyện. Làm quen với văn học còn là một môn học có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục và phát triển về mọi mặt cho trẻ trong trường mầm non. Làm quen với văn học còn là một môn học có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục và phát triển về mọi mặt cho trẻ trong trường mầm non. Vì vậy nếu thực hiện tốt việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học sẽ là phương tiện giáo dục tốt nhất, mang lại cho trẻ thơ những xúc cảm lành mạnh, hình thành ở trẻ những tình cảm đạo đức tốt đẹp, giúp trẻ phát triển khả năng ghi nhớ, trí tưởng tượng sáng tạo, làm phong phú đời sống tinh thần, làm giàu vốn từ và phát triển ngôn ngữ ở trẻ, tạo điều kiện để trẻ tiếp thu các môn học khác một cách dễ dàng.

     Đến với mỗi câu chuyện, bài thơ là trẻ lại được bước vào một thế giới vừa thực,vừa ảo, với bà tiên, ông bụt, với những nhân vật đáng yêu, đáng ghét. Việc tạo cho trẻ được tiếp xúc với tác phẩm văn học, không những giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh mà còn phát triển khả năng tư duy, chú ý, ghi nhớ. Đặc biệt còn giúp trẻ phát triển mạnh mẽ về ngôn ngữ. thông qua các câu chuyện với ngôn ngữ rất giàu hình ảnh và có sắc gợi cảm, không chỉ làm phong phú thêm vốn từ cho trẻ, mà còn giúp trẻ 3-4 tuổi nói đủ câu, rõ ràng, mạch lạc. Các câu chuyện, bài thơ này còn là những bài học giáo dục đạo đức, thẩm mỹ đến với trẻ một cách dễ dàng. Ở lứa tuổi mẫu giáo nói chung, nhất là các bé lớp 3-4 tuổi của tôi nói riêng cháu chưa biết đọc, chưa biết viết, mà trẻ dựa vào ngôn ngữ, lời nói của cô kết hợp với đồ dùng trực quan trong tiết học, giúp trẻ tìm tòi, khám phá mọi sự vật hiện tượng xung quanh trẻ. Vì vậy trẻ đặt ra muôn vàn câu hỏi tại sao? Cái gì? Ai ?Vì sao lại thế, Chuyện gì sẽ sảy ra… để người lớn trả lời. Do đó cô giáo giữ một vị trí vô cùng quan trọng, là người bắc nhịp cầu nối để đem các tác phẩm văn học đến với trẻ.

     2. Cơ sở thực tiễn

     Mặc dù nhận thức rõ được những vấn đề nêu trên, song bản thân tôi còn băn khoăn rất nhiều về điều kiện cơ sở vật chất, về khả năng văn học của bản thân.

     Là giáo viên được phân công dạy lớp 3-4 tuổi tôi nhận thấy kết quả cho trẻ làm quen với văn học chưa cao, việc xây dựng môi trường cho trẻ làm quen văn học còn hạn chế, trẻ chưa thực sự hứng thú khi học bộ môn làm quen văn học. Điều này khiến bản thân tôi luôn suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với văn học, đáp ứng được yêu cầu giáo dục Mầm non mới. Đây là mong muốn và là trách nhiệm của người giáo viên vì vậy tôi quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp giúp trẻ 3- 4 tuổi học tốt môn Làm quen văn học”.

     II. MỤC ĐÍCH CỦA SÁNG KIẾN

     Tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng việc tạo hứng thú cho trẻ học tốt môn làm quen văn học, Củng cố cho trẻ  tên các câu chuyện ,bài thơ, ca dao, đồng dao, các nhân vật trong truyện, các hình ảnh trong thơ, các hình tượng trong các bài đồng dao ca dao tục ngữ.

     Nhằm giúp những đứa trẻ hiểu nội dung và nhớ được trình tự câu chuyện, câu thơ các câu đồng dao ca dao tục ngữ một cách dễ hiểu nhất đối với trẻ con.

     Thông qua nội dung truyện, bài thơ và các hình tượng trong các bài đồng dao ca dao, tục ngữ trẻ biết yêu thương chia sẻ và quan tâm đến mọi người xung quanh, từ đó tôi chọn lọc các hình thức, hình ảnh trực quan, các hình thức tổ chức để tạo hứng thú phù hợp với trẻ 3-4 tuổi cảm nhận được các tác phẩm văn học một các thuận lợi và dễ dàng nhất.

      III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

     Trẻ mẫu giáo bé 3- 4 tuổi học tốt môn làm quen văn học

     IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     Trong đề tài này tôi đã chọn và sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

   1. Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan và đàm thoại.

   2. Phương pháp đọc kể diễn cảm.

   3. Phương pháp thực nghiệm.

   4. Phương pháp tuyên truyền với các bậc phụ huynh.

   5. Phương pháp nghiên cứu sử dụng tài liệu.

     V. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Trẻ 3-4 tuổi ở lớp MGB

     VI. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

    Đề tài được nghiên cứu thực hiện một năm học từ tháng 09/2018 đến tháng 03/2019 cụ thể:

- Tháng 9/2018: Xác định đề tài nghiên cứu

 - Tháng 10/2018:  Viết đề cương

- Tháng 11/2018 đến tháng 1/2019: Nghiên cứu thực tế

- Tháng 2/2019: Viết nghiên cứu thực tế

- Tháng 3,/2019: Viết theo mẫu

- Tháng 4/2019: Sửa đổi bổ sung và hoàn thiện đề tài.

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

      I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

     1. Một số khái niệm:

     1.1 Văn học là gì?

     Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người. Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ.

     Khái niệm văn học đôi thường được sử dụng tương tự như khái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn lộn. Tuy nhiên, xét về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương. Văn chương thường nhấn mạnh vào tính thẩm mĩ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn từ.Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng,phản ánh và thể hiện đời sống.

     1.2 Làm quen tác phẩm văn học là gì?

     Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là quá trình sư phạm,bước đầu nhằm giúp trẻ có những hiểu biết nhất định về văn học nghệ thuật. Qua đó góp phần phát triển tình cảm đạo đức, phát triển những xúc cảm thẩm mĩ và đặc biệt là phát triển ngôn ngữ

     Làm quen tác phẩm văn học chỉ ra mức độ ,giới hạn, yêu cầu của việc cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học thông qua nghệ thuật đọc kể của cô giáo. Hoạt động này nhằm dẫn dắt ,hướng dẫn trẻ cảm nhận những hứng thú đối với văn học có ấn tượng về những hình tượng nghệ thuật phong phú trong tác phẩm, khơi gợi ở trẻ sự rung động hứng thú với tác phẩm văn học có ấn tượng về những hình tượng nghệ thuật, cái hay, cái đẹp của tác phẩm và thể hiện sự cảm nhận qua đó các hoạt động mang tính chất văn học nghệ thuật như đọc thơ, kể chuyện, chơi trò chơi đóng kịch cao hơn là tiến tới sáng tạo ra những vần thơ, câu chuyện theo tưởng tượng của mình, phát triển khả năng cảm thụ của trẻ góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ.

     2. Vai trò của bộ môn làm quen văn học

     Đối với trẻ 3-4 tuổi luôn được những người thân trong gia đình như ông, bà, bố, mẹ yêu thương, chăm sóc, trẻ chưa được làm quen với thế giới xung quanh nhưng khi đến trường mầm non thế giới xung quanh được mở ra trước mắt trẻ vô cùng đẹp và thích thú cái gì cũng mới lạ, điều gì trẻ cũng muốn được khám phá, trẻ luôn đặt ra những câu hỏi hồn nhiên và ngộ nghĩnh.” Cái gì đây?, Để làm gì?, Con gì đây?, Sao lại biết bơi?, Bơi ở đâu?...”. Tất cả những câu hỏi ngộ nghĩnh đó đều bắt nguồn từ sự quan sát của trẻ. Nếu người lớn chỉ giải thích bằng những ngôn ngữ đơn thuần thì trẻ rất mau quên và chóng chán.

     3. Đặc điểm ngôn ngữ trẻ 3-4 tuổi

     Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở giai đoạn này là tư duy trực quan hành động, chú ý của trẻ là chú ý không chủ định. Vì vậy đối tượng nào gây sự chú ý và thích thú đến với trẻ thì trẻ sẽ tập trung chú ý và nhớ lâu hơn.

     Đối với truyện giáo viên nên lựa chọn truyện khoảng 60-100 từ với 2-3 sự kiện

     Thể thơ lục bát 5 chữ với trẻ MGB bài thơ khoảng 6-8 câu

     Về đặc điểm tâm sinh lý: Với trẻ 3-4 tuổi khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định của trẻ đang phát triển nhưng chưa hoàn thiện, ngôn ngữ diễn đạt bằng lời còn bị hạn chế. Chính vì vậy thông qua các câu chuyện bằng hình ảnh trực quan như rối dẹt, rối tay,tập đóng vai các nhân vật, tranh động, qua sự minh họa của cô giúp trẻ hứng thú và hiểu được hành động, tính cách, tình cảm của từng nhân vật khi trẻ được làm quen trong tác phẩm văn học.

      II. CƠ SỞ THỰC TIỄN:

      1. Đặc điểm tình hình

      1.1 Thuận lợi

     a. Về cơ sở vật chất

- Trường với qui mô toàn trường có 10 lớp học: 4 lớp MG lớn, 2 lớp MG nhỡ,  2 lớp MG bé , 2 lớp nhà trẻ . Toàn trường có tổng số 32 đồng chí CB- GV- NV và gần 400 cháu ở các độ tuổi.

- Trường có đầy đủ cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho việc chăm sóc giáo dục trẻ.

      b. Về phía BGH 

- Luôn được sự hướng dẫn và chỉ đạo sát sao về chuyên môn của phòng giáo dục quận Hoàng Mai  và sự quan tâm và tạo điều kiện về mọi mặt của BGH trường mầm non……..

- Trường đã làm tốt phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội và nâng cao kỹ năng tự phục vụ cho trẻ .

Nhà trường cũng có kế hoạch chuyên đề cho từng lứa tuổi, từng chủ điểm sao cho phù hợp với lứa tuổi trẻ, với lớp mình. Từ đó đề ra những biện pháp cụ thể để phát triển hứng thú cho trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ mẫu giáo bé 3-4 tuổi nói riêng.

     c. Đối với giáo viên

Năm học 2018-2019, được sự quan tâm chỉ đạo của phòng giáo dục, các cấp, các ngành, đặc biệt là ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất và chuyên môn.

Hàng năm chúng tôi được học lớp bồi dưỡng trong hè và dự các buổi chuyên đề của phòng, của trường bạn và nhà trường tổ chức các buổi tập huấn, kiến tập trao đổi chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy và học. Đó cũng là điều kiện để tôi được học tập, củng cố thêm kiến thức phục vụ cho tiết dạyvà tổ chức các hoạt động của mình cho trẻ

Mỗi giáo viên đều có  kế hoạch giảng dạy các môn học và các hoạt động rất cụ thể ngay từ đầu năm học.

 Bản thân là giáo viên có trình độ chuẩn về chuyên môn, thực sự có tấm lòng yêu nghề mến trẻ, có kinh nghiệm trong chăm sóc giáo dục.

Cơ sở vật chất có đủ đồ dùng tối thiểu.

Được phụ huynh tin yêu, bạn bè đồng nghiệp quý mến.

      d. Đối với trẻ

Số trẻ đến lớp phù hợp, đạt tỉ lệ chuyên cần cao.

Một số trẻ có khả năng ghi nhớ rất nhanh.

      e. Phụ huynh

- Được rất nhiều các bậc phụ huynh quan tâm, ủng hộ nhiệt tình khi thực hiện chuyên đề.

- Phụ huynh quan tâm, chăm sóc giáo dục con nên thuận lợi trong việc tuyên truyền kết hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường

     2. Khó khăn

      a. Cơ sở vật chất

- Diện tích quy hoạch sân chơi trong trường chưa có khu vực chuyên biệt.

- Chưa có nhiều đồ dùng , tư liệu sử dụng trong hoạt động

    b. Đối với Ban Giám Hiệu

- Do diện tích trường trật hẹp Ban giám hiệu chưa có đủ phòng làm việc riêng

- Trường có 2 cơ sở do đó ban giám hiệu làm việc tại 2 địa điểm việc di chuyển đi lại 2 cơ sở để sát sao các hoạt động của nhà trường còn mất thời gian.

     c. Đối với giáo viên

   - Kinh nghiệm tổ chức cho trẻ làm quen với văn học còn hạn chế.

   - Đồ dùng trực quan còn ít, chưa đa dạng phong phú, thẩm mỹ , giá trị sử dụng chưa cao.

      d. Đối với trẻ

Phòng lớp trật hẹp

Khả năng nhận thức của trẻ chưa cao, một số trẻ còn nói ngọng, nhận thức không đồng đều. Vì vậy sự hứng thú học tập của trẻ còn chưa cao.

Đầu năm học lớp tiếp nhận 1 số cháu mới, các cháu này chưa được học qua các lớp mẫu giáo trước đó, do vậy trẻ chưa có những nề nếp và thói quen trong các hoạt động ở trường . Đặc biệt trẻ bị thiếu hụt kiến thức rất nhiều. Đây cũng là một trong những khó khăn khi giáo viên truyền thụ kiến thức cho trẻ.

     e. Đối với phụ huynh

   - Phụ huynh ở lớp phần lớn là tiểu thương nhỏ và làm nghề khác nên ít có thời gian và điều kiện quan tâm đến con em mình, đặc biệt là việc kèm cặp các cháu việc giúp trẻ tiếp cận với các tác phẩm văn học còn ít và hạn chế

VD: Phụ huynh không có thời gian đọc chuyện , kể chuyện cho trẻ nghe hay chơi trò chơi , dở sách…. Cùng trẻ.

   - Một số phụ huynh còn chưa hiểu hết được tầm quan trọng của ngành học mầm non nên chưa thực sự quan tâm đến trẻ.

       3. Khảo sát trẻ mẫu giáo bé 3-4 tuổi học tốt hoạt động làm quen văn học:

       3.1. Mục tiêu khảo sát:

     Điều tra thực trạng trẻ mẫu giáo bé 3-4 tuổi học tốt hoạt động làm quen văn học

     3.2. Nội dung khảo sát:

     Khảo sát về mức độ tiếp nhận kiến thức hiểu biết của trẻ về hoạt động làm quen văn học.

      3.3 Kết quả khảo sát trẻ trước khi thực hiện

       Kết quả khảo sát, đánh giá trên trẻ ở đầu năm học như sau:

  Số trẻ : 27 trẻ

Năm học 2018-2019 tôi thực hiện đề tài này với số trẻ là 27 cháu.

 

ST

 

 

NỘI DUNG KHẢO SÁT

 

ĐẠT

CHƯA ĐẠT

Số lượng

Tỷ lệ %

Số lượng

Tỷ lệ %

1

Hiểu nghĩa từ khái quát gần gũi

 

15/27

 

55,6

 

12/27

 

44,4

2

Sử dụng được các từ thông dụng chỉ sự vật ,hiện tượng, đặc điểm

 

6/27

 

22,3

 

21/27

 

77,7

3

Kể chuyện có mở đầu kết thúc

 

12/27

 

44,4

 

1527

 

55,6

 

4

Bắt chước giọng nói của nhân vật trong chuyện

 

12/27

 

44,4

 

 

15/27

 

55,6

 

5

Mô tả hành động của các nhân vật trong tranh

 

11/27

 

40,7

 

 

16/27

 

59,3

    III. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

      1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch

     1.1 Xác định mục đích yêu cầu

Xác định mục đích yêu cầu dựa trên kết quả mong đợi của chương trình và khả năng của trẻ tại lớp MGB- C1 và của từng cá nhân trẻ

Xác định dựa trên đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổi

Bé 3 tuổi đã biết nói và bước sang một giai đoạn mới trong việc phát triển ngôn ngữ của mình, vốn từ mở rộng thêm và khả năng sử dụng ngữ pháp đáng ngạc nhiên khiến bạn có thể hiểu được hơn… 3 hoặc 4 từ trong những gì trẻ nói.

Bé thường sử dụng những câu dài hơn, thường trên 3 từ, và phát triển nhiều hơn về từ vựng, từ 300 đến 1.000 từ hoặc nhiều hơn.

Các bé 3 tuổi rất thích nói và hát. Cách diễn đạt dài dòng cũng là một dấu hiệu của tuổi này. Trẻ có thể trả lời những câu hỏi đơn giản hoặc đặt câu hỏi với bạn. Đôi khi, trẻ chỉ nói liên miên không ngừng chứ không mấy để ý đến câu trả lời.

Trẻ cũng bắt đầu mô tả những gì trẻ nhìn thấy hoặc đang làm và bắt đầu tìm từ ngữ để giải thích cho những chuyện đó. Bạn nên chỉ cho trẻ cách sử dụng tính từ nhiều hơn, ví dụ: chiếc xe hơi to màu đỏ, và dùng đúng động từ trong mỗi hoàn cảnh.

các câu chuyện khoảng 60-100 từ với 2-3 sự kiện

Thể thơ lục bát hoặc 5 chữ khoảng 6-8 câu

Khi bé yêu của bạn bốn tuổi, bé đã có thể  có thể hiểu những câu hỏi đơn giản “ai?”, “cái gì”, “ở đâu”, và có thể nghe thấy bạn khi bạn gọi bé từ phòng bên cạnh. Thậm chí, bé đã có thể nói rõ ràng để mọi người có thể hiểu, và có thể nói được những câu phức tạp có những từ “bởi vì” hay "nhưng”, tuy nhiên một số âm bé vẫn còn phát âm chưa rõ nét. Nếu bạn đưa bé vào siêu thị đồ chơi trẻ em, hỏi bé thích gì, bé sẽ trả lời “con xích chiêu nhân” (con thích siêu nhân), rõ ràng, bé yêu đã trưởng thành lên nhiều so với hồi 3 tuổi, bé của bạn đã nói trọn câu, và bày tỏ mong muốn của mình một cách đầy đủ, có thể đếm đến 10 hoặc hơn thế. Bé cũng đã phân biệt được các màu sắc khác nhau trên trang phục của bé, và thường thích tự lựa chọn trang phục trước khi đến trường.

Ở tuổi lên bốn, bé yêu cũng trở nên thích truyện và có thể trả lời câu hỏi về nhân vật trong truyện.  Trẻ cũng đã có thể hiểu gần như mọi điều người khác nói với mình tại nhà, tại trường mầm non hay nhà giữ trẻ vì khả năng nghe ở mọi thời điểm của bé đã vững vàng. Bé có thể  kể cho bạn nghe những câu chuyện có thật do bé được nghe ở trường mẫu giáo, xem trên chương trình tivi hoặc thậm chí do bé tự nghĩ ra. Đôi lúc, bạn có thể bật cười, vì bé ôm chầm con búp bê yêu thích của bé, đưa búp bê đi tắm, rồi ru ngủ và căn dặn như một người mẹ thực thụ. Bé thích chơi đồ hàng và đóng các vai như ông bố bà mẹ, và xưng hô theo cách của người lớn, hoặc như những nhân vật trong các câu chuyện bé được nghe, bé hội thoại như chính cách bé đã lắng nghe mọi người trong cuộc sống thường ngày.

Bé của bạn không ngừng đặt những câu hỏi “Tại sao bầu trời xanh?”, “Tại sao con là con trai?”bởi lúc này, bé đang ở  trong giai đọan học hỏi khá quan trọng. Hãy để bé sải những bước chân tự nhiên trong khi bạn đưa ra cho bé các cơ hội để khuyến khích thúc đẩy lòng hăng hái và sức sáng tạo ở bé. Nếu bạn muốn cho bé phát triển về mặt âm nhạc hoặc hội họa thì đây cũng là một thời điểm tốt vì bé đã nhận ra được các giai điệu, âm sắc trong các bản nhạc và đã vẽ được những bức tranh thực và khéo léo hơn từ chính những câu hỏi bé được giải đáp đó. Trong những trò chơi đóng vai, bé sẽ diễn những kịch bản từ trí tưởng tượng phong phú của mình vì bé đã hình thành ngôn ngữ giao tiếp hai chiều đơn giản. Như vậy, khả năng ngôn ngữ của bé đã có nhiều tiến bộ vượt bậc trong giai đoạn bé bốn tuổi.

    1.2 Xây dựng ngân hàng nội dung và dự kiến hoạt động

     Để đảm bảo hệ thống bài được khoa học, dàn trải đều trong 1 năm không bỏ sót các mục tiêu giáo dục tôi đã xây dựng dự kiến hoạt động phát triển ngôn ngữ năm học 2018-2019.

Phát triển
ngôn ngữ

 

 

1. Thực hiện được yêu cầu đơn giản, ví dụ: “Cháu hãy lấy quả bóng, ném vào rổ”.

-Thực hiện: Tháng 9 , 10

- Đánh giá:

Tháng  10

* HĐ học

*HĐ khác : TC truyền tin, cái