• Tiếng Việt
  • English
  • 中文
  • Français
  • 日本語
  • 한국어
  • Español
  • Русский
  • Deutsch
  • ไทย
  • ລາວ
  • हिन्दी
  • Português

SKKN “Kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ Nhà trẻ (24- 36 tháng tuổi) - Lớp Nhà trẻ D1

15/4/2023, 10:22
Lượt đọc : 826
Chia sẻ tin bài

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
          Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người. Nhờ ngôn ngữ mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiêm, tâm sự với nhau những điều thầm kín..Bác Hồ của chúng ta đã dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn, tôn trọng nó”
          Trong công tác giáo dục thế hệ mầm non cho đất nước, chúng ta càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ thơ.
          Dạy tiếng mẹ đẻ cho trẻ lứa tuổi mầm non đặc biệt là lứa tuổi nhà trẻ 24- 36 tháng tuổi có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp trẻ nhận thức và giao tiếp tốt góp phần quan trọng vào việc hình thành và
phát triển nhân cách cho trẻ. Việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc trong giao tiếp sẽ dễ dàng tiếp cận với các môn khoa học khác ở độ tuổi mẫu giáo: môi trường xung quanh, làm quen với toán, âm nhạc, tạo hình… Mà điều tôi muốn đề cập ở đây là để ngôn ngữ của trẻ phát triển thuận lợi, một trong những điều kiện quan trọng là trẻ tích lũy được nhiều vốn từ và trên cơ sở hiểu biết đầy đủ ý nghĩa của những từ đó, trẻ biết sử dụng” số vốn” đó một cách thành thạo.
Nhưng trên thực tế, trể 24- 36 tháng tuổi ở lớp tôi các cháu dùng từ không chính xác, nói ngọng, nói không đủ câu, nói câu không trọn nghĩa chiếm một số ượng không nhỏ và rất khó cho việc trẻ tiếp cận các môn học khác sau này bởi trẻ một phần nghéo nàn về vốn từ, một phần trẻ không biết diễn đạt sao cho mạch lạc.
Xuất phát từ những lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ Nhà trẻ (24- 36 tháng tuổi) làm đề tài nghiên cứu.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận của vần đề: Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt vì nó ra đời và tồn tại cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người, ngôn ngữ dùng để phục vụ ,mọi thành viên trong xã hội từ việc học tập, lao động đến việc vui chơi giải trí. Có thể nói rằng trong bất kì lình vực hoạt động nào của con người cũng cần đến ngôn ngữ.
Ngôn ngữ giúp cho người trao đổi tư tưởng tình cảm, bộc lộ những cảm xúc và xác lập những mối quan hệ giữa thành viên này với thành viên khác trong xã hội.Ngôn ngữ có thể nói là một thứ công cụ để tổ chức xã hội,để duy trì mối quan hệ giữa người với người trong xã hội. Quá trình phát triển ngôn ngữ là quá trình cung cấp từ ngữ cho trẻ, góp phần là phong phú ngôn ngữ đẩy mạnh quá trình phát triển trí tuệ và tình cảm đạo đức cho trẻ, Có thể nói rằng rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là góp phần tích cực vào việc trang bị cho thế hệ mầm non một phương tiện mạnh mẽ để tiếp thu kinh nghiệm quý báu của thế hệ cha anh, đồng thời tạo điều kiện cho các cháu lĩnh hội các kiến thức, những hiểu biết mới lạ về thế giới xung quanh.
Ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng như vậy trong cuộc sống, nhưng là thế nào để ngôn ngữ phát triển và muốn có ngôn ngữ phát triển thì chúng ta không thể nói đến việc phát triển vốn từ cho trẻ. Từ là đơn vị có sẵn và cơ bản của ngôn ngữ, là vật liệu chủ yếu tạo nên câu, xây dựng lời nói. Trong cuộc sống không có vốn từ thì không có ngôn ngữ hoặc vốn từ chậm phát triển thì ngôn ngữ cũng chậm phát triển và ngược lại. Vốn từ phát triển phong phú thì ngôn ngữ cũng phát triển phong phú. Khi con người biết sử dụng nhiều loại từ một cách chặt chẽ thì họ sẽ có một cách giao tiếp vững vàng tự tin trong bất kỳ lĩnh vực nào của  xã hội.
Để có vốn từ phát triển trước tiên ta phải bắt đầu phát triển ngôn ngữ cho rẻ ngay từ lứa tuổi mầm non vì ở lứa tuổi này phát triển vốn từ là giúp trẻ nắm được nhiều từ, hiểu được ý nghĩa của từ, biết sử dụng từ trong giao tiếp. Phát triển từ cho trẻ là quá trình hình thành giúp trẻ làm quen với các từ mới, củng cố vốn từ làm cho vốn từ phong phú tích cực hóa ngôn ngữ cho trẻ.Quá trình này  iên quan chặt chẽ với giai đoạn nhận thức tiếp theo của trẻ để hình thành các biểu tượng về thế giới xung quanh..
Đặc biệt trẻ ở lứa tuổi 24- 36 tháng tuổi, giai đoạn này người ta gọi là giai đoạntiền ngôn ngữ vì đặc điểm sinh lý  ở lứa tuổi này có vùng ngôn ngữ bắt đầu hình thành và phát triển mạnh, do đó mà trẻ được tác động mạnh mẽ về ngôn ngữ từ phía môi trường xung quanh trẻ, thì vùng ngôn ngữ của trẻ có điều kiện phát triển nhanh. Nhưng trong thực tế môi trường gia đình:ông, bà., bố, mẹ…hay môi trường xã hội: cô giáo còn ít quan tâm đến việc phát triển vốn từ cho trẻ nên nhìn chung vốn từ của trẻ còn nhiều hạn chế.  Ngoài ra tôi tự tìm tòi biện pháp đúc rút kinh nghiệm từ thực tế dạy trẻ ở các nội dung và chọn đề tài: “Kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ lứa tuổi 24- 36 tháng tuổi”
2. Thực trạng của vấn đề:
2.1. Thuận lợi:
– Lớp được chia theo đúng độ tuổi quy định
– Trẻ đi học chuyên cần
– Đồ dùng phục vụ cho việc phát triển vốn từ cho trẻ phong phú về hình  ảnh, màu sắc hấp dẫn( tranh ảnh, vật thật.. )
– Luôn được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của BGH nhà trường.
– Giáo viên nắm vững phương pháp giảng dạy bộ môn, được bồi dưỡng  thường xuyên và tham gia học tập tại các lớp chuyên đề do sở, phòng tổ chức.
– Giáo viên nhiệt tình, sáng tạo làm đồ dùng phục vụ cho việc cung cấp và  phát triển vốn từ cho trẻ.
– Trình đồ của giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn.
 2.2 . Khó khăn:
– Trẻ 24- 36 tháng tuổi do tôi phụ trách là độ tuổi còn non nớt, các cháu bắt  đầu đi học còn khóc nhiều, chưa quen với các cô và các bạn, chưa thích nghi với điều kiên sinh hoạt và các hoạt động ở lớp, các cháu không cùng tháng tuổi, mỗi cháu đều có sở thích và cá tính khác nhau.
– Trí nhớ của trẻ còn nhiều hạn chế, trẻ chưa biết hết khối lượng các âm tiếp thu cũng như trật tự các từ khi nhắc lại câu của người lớn. Vì thế trẻ thường xuyên bỏ bớt từ, bớt âm khi nói.
– 85% kinh nghiệm sống của trẻ còn nghèo nàn, nhận thức còn hạn chế dẫn đến tình trạng trẻ thường dùng từ không chính xác.
– 60% trẻ nói phát âm sai do ảnh hưởng ngôn ngữ của người lớn xung quanh
– Ở lớp nhà trẻ, thời gian chăm sóc trẻ chiếm đa số nên việc giáo viên chú ý  phát triển vốn từ cho trẻ  đôi khi còn gặp nhiều khó khăn.
– Đa số phụ huynh đều bận công việc hoặc có những lý do khách quan nào  đó ít có thời gian trò chuyện với trẻ và nghe trẻ nói. Trẻ được đáp ứng đầy đủ về  nhu cầu mà trẻ cần.
+ VD: Trẻ chỉ cần chỉ, cần nhìn vào những gì mình thích thì được đáp ứng  ngay mà không cần phải dùng lời để yêu cầu hoặc xin. Đây cũng là một trong những nguyên nhân của việc vốn từ của trẻ rất nghèo nàn.
– Đứng trước một số  khó khăn như vậy, tôi đã tìm tòi, suy nghĩ và nghiên cứu tài liệu để tìm ra một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ và qua thực tiễn dạy trẻ hàng ngày, trong những năm học vừa qua, tôi đã rút ra một số kinh nghiệm sau:
3. Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ.
3.1. Khảo sát trẻ đầu năm:

Đây là biện pháp theo tôi là rất cần thiết. Qua khảo sát tôi có thể nắm rõ những mặt ưu điểm và hạn chế của trẻ.Bên cạnh đó khảo sát trẻ trên lớp khiến tôi và học sinh của mình có thể hiểu nhau hơn.
Khảo sát đàu năm:
3.2. Tìm hiểu đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ nhà trẻ
– Muốn phát triển vốn từ cho trẻ, theo tôi điều đầu tiên chúng ta phải hiểu  được phát triển vốn từ cho trẻ là gì ? Phát triển vốn từ cho trẻ giúp trẻ nắm vững được nhiều từ, hiểu ý nghĩa của từ và biết sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp. Để làm được như vậy tôi phải dựa trên các cơ sở lý luận sau: 
3.2.1. Cơ sở ngôn ngữ
– Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ nhà trẻ: Vốn từ của trẻ tăng nhanh, số  lượng từ chủ động của trẻ từ 500- 600 từ. Trong vốn từ của trẻ có tất cả các loại từ đơn, từ ghép.ở trẻ có cả từ ghép 3- 4 tiếng bên cạnh đó trẻ có nhu cầu giao tiếp với mọi người, trẻ thích tìm hiểu những điều mới lạ trong cuộc sống xung quanh, những từ các cháu được sử dụng hầu hết là những từ chỉ tên gọi, những gì gần gũi xung quanh mà hàng ngày trẻ tiếp xúc. Ngoài ra, trẻ cũng nói được  một số từ chỉ hành động, chỉ những công việc của bản thân và mọi người xung quanh, chỉ hành động của những con vật mà trẻ biết.
Ví dụ :
Máy bay  – Máy bay bay
Tàu hỏa  –  Tàu hỏa chạy
Con cá  – Con cá bơi
Bố cháu  – Bố cháu đi làm
Tôi nhận thấy vốn từ của trẻ tuy phát triển nhưng vẫn còn hạn chế bộ máy  phát âm của trẻ đang hoàn thiện dần nên khi trẻ nói, trẻ hay nói chậm, hay nói kéo dài giọng,đôi khi còn ậm, ừ, ê, a, không mạch lạc. Để giúp trẻ phát triển vốn từ, tôi thấy người giáo viên cần phải nắm vững vốn từ của trẻ. Mặt khác, các cô giáo phải nói to, rõ ràng, mạch lạc, dễ nghe.
3.2.2. Cơ sở tâm lý:  
Tư duy của trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ là tư duy trực quan. Thời kỳ này, khả năng  chi giác về các sự vật hiện tượng bắt đầu được hoàn thiện.Trẻ hay bắt chước những cử chỉ và lời nói của người khác, do vậy ngôn ngữ của cô giáo phải trong
sáng và chính xác để trẻ nói theo. 3.2.3. Cơ sở giáo dục:
Ngôn ngữ của trẻ chỉ được hình thành và phát triển qua giao tiếp với con  người và sự vật hiện tượng xung quanh.
Để thực hiện điều đó phải thông qua nhiều phương tiện khác nhau như qua  các giờ học, các trò chơi, dạo chơi ngoài trời vàsinh hoạt hàng ngày, rèn luyện và phát triển vốn từ cho trẻ, tập cho trẻ biết nghe, hiểu và phát âm chính xác các âm của tiếng mẹ đẻ, hướng dẫn trẻ biết cách diễn đạt ý muốn của mình cho người khác hiểu.Vì vậy khi cho trẻ tiếp xúc với các sự vật hiện tượng thì phải cho trẻ biết gọi tên,đặc điểm của đối tượng, không những thế, giáo viên dạy trẻ biết nói câu dầy đủ, rõ nghĩa, dạy trẻ phát âm chuẩn của tiếng việt, đảm bảo các   6 nguyên tắc của giáo dục học tính khoa học, tính hệ thống, tính vừa sức, tính tiếp thu.
Dựa vào những cơ sở lý luận trên, đối chiếu với tình hình thực tế, tôi nhận thấy sự chênh lệch về vốn từ của trẻ ở cùng một lứa tuổi trong lớp khá lớn. Qua quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy vốn từ của trẻ không phụ thuộc vào điều kiện vật chất, kinh tế gia đình mà trước hết liên quan rất nhiều đến thới gian trò chuyện với trẻ hay không?Cô và cha mẹ có lắng nghe bé kể chuyện về sinh hoạt và bạn bè hay không? Cô có thường xuyên kể chuyện cho bé nghe và hướng dẫn bé kể lại không?…Tất cả những điều đó không chỉ làm tăng vốn từ của trẻ, sự hiểu biết nghĩa của từ, cách dùng từ của trẻ mà còn làm phong phú hiểu biết và
xúc cảm của trẻ.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên tôi đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ ở lớp thông qua một số hoạt động sau:  3.3. Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua hoạt động học:
Phát triển vốn từ cho trẻ ở trường Mầm Non là công tác giáo dục có kế  hoạch, có mục đích, có tổ chức và phải mang tính hệ thống nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ như một phương tiện giao tiếp quan trọng vì thế chúng ta phải dạy cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi, trên những tiết học cụ thể, trong đó phát triển ngôn ngữ, vốn từ phải được đặt lên vị trí hàng đầu. 
3.3.1. Thông qua giờ nhận biết tập nói:
Đây là môn học quan trọng nhất đối với sự phát triển ngôn ngữ và cung cấp  từ vựng cho trẻ.
Trẻ lứa tuổi 24- 36 tháng tuồi đang bắt đầu học nói, bộ máy phát âm chưa  hoàn chỉnh, vì vậy trẻ thường nói một từ, nói ngọng, nói lắp. Cho nên trong tiết học cô phải chuẩn bị đồ dùng trực quan đẹp, hấp dẫn để gây hứng thú cho trẻ.
Bên cạnh đó cô cũng phải chuẩn bị một hệ thống câu hỏi rõ ràng , ngắn gọn, trong khi trẻ trả lời cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ, đủ câu, không nói câu cụt lủn hoặc cộc lóc.
Ví dụ :
Trong bài nhận biết quả dưa,quả cam, quả đu đủ ” Cô muốn cung cấp từ ” Mắt dứa” cho trẻ   Cô phải chuẩn bị đầy đủ các loại quả thật, để trẻ sử dụng các giác quan: sờ, nhìn, nếm, ngửi,… nhằm phát huy được tính tích cực của tư duy, rèn khả năng ghi nhớ có chủ đích…
Đề giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát, cô cần đưa ra một hệnm thống câu hỏi:
+ Đây là quả gì? ( Đây là quả dứa ạ )
+ Quả dứa có màu gì ( Màu vàng )
+ Đây là cái gì của quả dứa (Vỏ dứa )
7 + Vỏ dứa như thế nào ?( Vỏ dứa có mắt ạ )
Như vậy nhờ có sự giao tiếp giữa cô và trẻ đã giúp trẻ phát huy được tính  tích cực của tư duy, rèn khả năng ghi nhớ, phát triển năng lực quan sát, phát triển các giác quan, kích thích lòng ham hiểu biết tìm tòi khám phá về những điều bí ẩn của các sự vật xung quanh.Qua đó củng cố, mở rộng vốn hiểu biết, làm giầu vốn từ cho trẻ.  3.3.2. .Qua giờ thơ, truyện.
Trên tiết học khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là phát triển ngôn  ngư nói cho trẻ và còn hình thành phát triển ở trẻ kỹ năng nói mạch lạc mà muốn làm được như vây trẻ phải có vốn từ phong phú hay nói cách khác là trẻ cũng học thêm được các từ mới qua giờ học thơ truyện.
Khi tiếp xúc với bài thơ, câu chuyện là trẻ đã được tri giác các bức tranh có hình ảnh và từ ngữ mới tương ứng với nội dung bức tranh.
Ví dụ1:
Trẻ nghe câu chuyện ” Bác gấu đen và hai chú thỏ” Cô muốn cung cấp cho  trẻ từ ” Ướt lướt thướt”  Cô có thể cho trẻ xem tranh, mô hình và giải thích từ ” ướt lướt thướt”. Bên  cạnh đó cô cũng chuẩn bị một số hệ thống câu hỏi giúp trẻ nhớ được nội dung
truyện và từ vừa học.
+ Bác gấu đen trong câu chuyện cô vừa kể đi đâu ?( Đi chơi rừng )
+ Khi gặp trời mưa , bác gấu đen bị làm sao ? ( Ướt lướt thướt )
Cô kể 1 -2 lần giúp trẻ hiểu tác phẩm và đặt tiếp hệ thống câu hỏi hướng  vào việc hiểu biết các hành động của nhân vật để trẻ hiều việc nào nên làm, việc nào không nên làm.
+ Qua câu chuyện, con yêu quý ai ? ( Bác gấu đen, bạn thỏ trắng )
( Vì bạn thỏ trắng và bác gấu đen là những người tốt bụng )
Ví dụ 2 :
Qua bài thơ “Cây bắp cải ” Cô muốn cung cấp cho trẻ từ ” Sắp vòng quanh”
Cô có thể cho trẻ quan sát vật thật. Cho trẻ được xem,được sờ… các lá bắp  cải sắp vòng quanh như thế nào?Cô vừa giải thích vừa chỉ cho trẻ xem và cho trẻ cùng làm động tác mô phỏng các là được xếp vòng quanh với nhau tạo thành cây bắp cải xanh. Bên cạnh đó cô cũng chuẩn bị một hệ thống câu hỏi :
+ Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gị ?  Cây bắp cải
+ Cây bắp cải trong bài thơ được tác giả miêu tả đẹp như thế nào ? ( Xanh  man mát )
+  Lá bắp cải trong bài thơ được tác giả miêu tả như thế nào ? ( Sắp vòng quanh)
Như vậy thơ truyện không những kích thích nhận thức có hình ảnh của trẻ
mà còn dạy trẻ thể hiện và mô phỏng những động tác tương ứng với nhân vật  8 trong bài thơ, câu truyện.Khi trẻ đã biết kể lại truyện cùng với co điều đó chứng tỏ trẻ đã biết ghi nhớ cốt truyện và biết sử dụng ngôn ngữ nói là phương tiện, lĩnh hội kinh nghiệm tiếp thu kiến thức, biết sử dụng nhiều từ mới thể hiện sự tương ứng mới nội dung câu truyện đó. 
3.3.3.. Qua giờ âm nhạc
Các tiết học âm nhạc trẻ được tiếp xúc nhiều với đồ vật ( Trống , lắc, phách  tre và nhiều vật liệu ) trẻ được học những giai điệu vui tươi kết hợp với các loại hoạt động ( Vận động  theo bài hát một cách nhịp nhàng. Để làm được như vậy đó là nhờ sự hiểu biết, nhận thức, vốn từ, kỹ năng nhất là sự giao tiếp bằng ngôn ngữ của trể được tích lũy và lĩnh hội, phát triển tính nghệ thuật, giúp trẻ yêu âm nhạc.
Qua những giờ học hát, vận động theo nhạc, trẻ đã biết sử dụng những hình ảnh đep của bài hát.
Ví dụ :
Hát và vận động bài ” Con voi”
Trẻ biết sử dụng động tác minh họa đơn giản như:
Trông đằng xa kia có con chi to ghê: Trẻ dùng một ngón tay vẫy vẫy
Sao trông giống như xe hơi : Hai tay tạo hình chữ nhật ở trước ngực
Lăn lăn bánh xe đi chơi : Hai tay quay vòng tròn
À thì ra con voi :Dùng tay chỉ kết hợp với vẫy nhẹ
Vậy mà…đuôi trên đầu: Dùng tay phải đặt giữa đỉnh đầu vẫy nhẹ. 3.4 . Phát triển vốn từ của trẻ thông qua chơi.
Đây có thể coi là một trong những hình thức quan trọng nhất. Bởi giờ chơi  có tác dụng rất lớn trong việc phát triển vốn từ, đặc biệt là tích cực hóa vốn từ cho trẻ. Thời gian chơi của trẻ chiếm nhiều nhất trong thời gian trẻ ở nhà trẻ, là thời gian trẻ được chơi thoải mái nhất. Trong quá trình chơi trẻ được sử dụng các loại từ khác nhau, có điều kiện học và sử dụng các từ có nội dung rất khác nhau.
Ví dụ :
Trò chơi bế em
Búp bê của bạn ăn chưa ? ( Rồi ạ )
Bạn đã cho búp bê ăn lúc nào vậy? ( Vừa ăn xong )
Điều đó cho thấy giờ chơi không chỉ dạy trẻ kỹ năng chơi mà còn dạy trẻ nghe hiểu, giao tiếp cùng nhau
Trong quá trình chơi, trẻ được thực hiện nhiều hành động khác nhau với đồ chơi như vậy trẻ phải sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và phát triển lời nói cho trẻ.
Ví dụ :
Tài ơi ! Con đang xếp gì đấy ? ( Con xếp đoàn tàu )
9  Con xếp đoàn tàu bằng những hình gì? (Hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn ạ)
Như vậy trò chơi sáng tạo cũng góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Trong quá trình chơi trẻ bắt buộc phải giao tiếp với nhau do vậy vốn từ của trẻ được phát triển ngày một phong phú.
Ví dụ :
Trò chơi bế  em, cô nhập vai làm mẹ cho búp bê bú, cho búp bê ăn, búp bê  ngủ trẻ sẽ bắt chước những lời cô nói như : ” Con của mẹ ngoan quá!”
Biết hát ru ” à ơi ” cho em bé ngủ
Ngoài trò chơi, phản ánh sinh hoạt, trong giờ chơi, cô tổ chức cho trẻ chơi những trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ.
Ví dụ :
Trò chơi với động từ, danh từ.
Cô nói động từ, trẻ ghép các danh từ chỉ người, con vật, sự vật thích hợp  với động từ đó hoặc ngược
– Trò chơi với các tính từ:
Cô nói tính từ chỉ màu sắc của các sự vật, phẩm chất con người… cháu nói danh từ phù hợp với các tính từ đó ( hoặc ngược lại )
 – Trò chơi bắt chước tiếng kêu của các con vật:
Cô nói                                     Trẻ kêu
Con mèo                                  Mèo meo
Con vịt                                     Cạp cạp
Con chó                                    Gâu gâu
– Trò chơi đoán đặc điểm của các con vât:
Cô nói                                      Trẻ nói
Con gà mái                               Có hai chân
Con chó                                    Có bốn chân
Trong quá trình chơi trẻ được thực hiện nhiều lần, nhiều hành động khác  nhau, như vậy trẻ phải sử dụng ngôn ngữ để tìm tòi, khám phá cách chơi, luậtchơi.
Cô giáo có vai trò quan trọng thúc đẩy, kích thích trẻ sử dụng ngôn ngữ và phát triển lời nói mạch lạc, đúng ngữ pháp của trẻ. 3.5. Qua giờ đón trả trẻ.
– Cô phải tích cực trò chuyện cùng trẻ và yêu cầu trẻ trả lời các câu hỏi của  cô rõ ràng. Trò chuyện với trẻ là hình thức đơn giản nhất để cung cấp vốn từ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là phát triển ngôn ngữ mạch lạc. Bởi qua trò chuyện với trẻ, cô cung cấp, mở rộng ” vốn từ” cho trẻ.
Ví dụ:
Bó con tên gì ? ( Bố con tên là Tuán ạ )
Sáng nay ai đưa con đi học ?( Mẹ con ạ )
Mẹ con

Tin cùng chuyên mục

Thực hiện quy chế - Tổ chức giờ ăn - ngủ lớp B1

Thực hiện quy chế - Tổ chức giờ ăn - ngủ lớp B1

Trong những năm tháng được đồng hành cùng các con khôn lớn, được chăm sóc từ miếng ăn, giấc ngủ cho đến dạy trẻ những kiến thức, kỹ năng,... tôi nhận thấy rằng để trẻ có sức khỏe tốt, phát triển về mọi mặt thì việc chăm sóc bữa ăn, giấc ngủ cho trẻ là rất quan trọng, nó ảnh lớn đến sự phát triển của trẻ.