• Tiếng Việt
  • English
  • 中文
  • Français
  • 日本語
  • 한국어
  • Español
  • Русский
  • Deutsch
  • ไทย
  • ລາວ
  • हिन्दी
  • Português

Một số kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24- 36 tháng thông qua hoạt động tập nói ở trường mầm non

4/4/2022, 20:38
Lượt đọc : 1.097
Chia sẻ tin bài

I/Lý do chọn đề tài:

      Bác Hồ đã dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó.”

      Ngôn ngữ có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em. Ngôn ngữ là phương tiện giữ gìn bảo tồn, truyền đạt và  phát triển những kinh nghiệm lịch sử và phát triển xã hội của loài người . Trẻ em sinh ra đầu tiên là những cơ thể sinh học, nhờ có ngôn ngữ là phương tiện giao lưu bằng hoạt động tích cực của mình dưới sự giáo dục và dạy học của người lớn trẻ em dần chiếm lĩnh được những kinh nghiệm lịch sử- xã hội của loài người và biến nó thành cái riêng của mình. Trẻ em lĩnh hội ngôn ngữ sẽ trở thành những chủ thể có ý thức, lĩnh hội kinh nghiệm của loài người xây dựng xã hội ngày càng phát triển hơn.

     Ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tư duy, là công cụ hoạt động trí tuệ và là phương tiện để giáo dục tình cảm, thẩm mỹ cho trẻ.  Như vậy ngôn ngữ có vai trò to lớn đối với xã hội và đối với con người. Vấn đề phát triển ngôn ngữ một cách có hệ thống cho trẻ ngay từ nhỏ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.

     Là một cô giáo Mầm Non trực tiếp dạy trẻ 24- 36 tháng tôi luôn có những suy nghĩ trăn trở làm sao để dạy các con phát âm chuẩn, chính xác đúng Tiếng Việt. Vì thế tôi đã dạy các con thông qua các môn học khác nhau và dạy các con ở mọi lúc mọi nơi qua các hoạt động hàng ngày, từ đó trẻ khám phá hiểu biết về mọi sự vật hiện tượng, về thế giới xung quanh trẻ, phát triển tư duy. Tôi thấy mình cần phải đi sâu tìm hiểu kỹ vấn đề này để từ đó rút ra nhiệm vụ giáo dục cho phù hợp với yêu cầu phát triển của lứa tuổi.

     Đó chính là lí do mà tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng ở trường mầm non Lĩnh Nam” làm sáng kiến kinh nghiệm cho năm học này.

     II/. Mục đích nghiên cứu:

      Tìm ra một số biện pháp giúp trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng phát triển ngôn ngữ ở trường mầm non Việt Hưng

     Hướng dẫn trẻ một số kỹ năng phát triển ngôn ngữ ở trường mầm non Việt hưng

     III/. Đối tượng nghiên cứu:

     Đi sâu vào nghiên cứu những hình thức sinh động, hấp dẫn để giúp trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng phát triển ngôn ngữ ở trường mầm non Lĩnh Nam

      * Phạm vi đối tượng khảo sát, thực nghiệm:

      Trẻ Nhà trẻ 24-36 tháng  tuổi ở trường mầm non việt Hưng

     IV/. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: đọc nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

  + Phương pháp quan sát sư phạm.

  + Phương pháp dùng lời.

  + Phương pháp dùng trò chơi.

     V/. Phạm vi nghiên cứu:

     - Thời gian nghiên cứu đề tài trong 1 năm học, bắt đầu từ tháng 9/2018 và kết thúc vào tháng 4/2019.

B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

      I. Cơ sở lý luận

     Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người nói chung và trẻ Mầm Non nói riêng thì ngôn ngữ đóng một vai trò rất quan trọng và không thể thiếu được. Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất, đặc biệt đối với trẻ nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh, hình thành những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng. Nhờ có những lời chỉ dẫn của người lớn mà trẻ dần dần hiểu được những quy định chung của xã hội  mà mọi người đều phải thực hiện theo những quy định chung đó.

      Ngôn ngữ còn là phương tiện giúp trẻ tìm hiểu khám phá, nhận thức về môi trường xung quanh, thông qua cử chỉ lời nói của người lớn trẻ sẽ được làm quen với các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh. Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ sẽ nhận biết ngày càng nhiều màu sắc, hình ảnh… của các sự vật , hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày.

      Đặc biệt đối với trẻ 24- 36 tháng, người lớn cần giúp trẻ phát triển mở rộng các loại vốn từ, biết sử dụng nhiều loại câu bằng cách thường xuyên nói chuyện với trẻ về những sự vật, hiện tượng, hình ảnh…. mà trẻ nhìn thấy trong sinh hoạt hành ngày, nói cho trẻ biết đặc điểm, tính chất, công dụng của chúng từ đó hình thành ngôn ngữ cho trẻ.

      II. Cơ sở thực tiễn:

     1. Thuận lợi:

- Về phía phòng giáo dục: được phòng giáo dục và đào tạo, nhà trường cho đi học lớp bồi dưỡng về chuyên môn ,đặc biệt năm nay ngành giáo dục về lĩnh vực phát triển ngôn ngữ lứa tuổi mầm non, tham gia các buổi kiến tập ở trường bạn và trường mình để học thêm kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

- Về Ban giám hiệu:

+  Ban giám hiệu luôn quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất và chuyên môn, bồi dưỡng phương pháp, đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục mầm non, tạo mọi điều kiện giúp tôi thực hiện tốt chương trình giáo dục mầm non.

+ Ban giám hiệu đã trang bị đầy đủ tài liệu học, học liệu, thường xuyên tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên

+ Lớp học trang bị các thiết bị hiện đại phục vụ cho giảng dạy: Máy vi tính, ti vi, đầu đĩa.

- Về giáo viên:

 Hai cô giáo phối hợp nhịp nhàng trong việc chăm sóc giáo dục trẻ.

+ Bản thân là giáo viên yêu nghề mến trẻ, có trách nhiệm cao trong việc thực hiện các nhiệm vụ mà nhà trường giao cho.

+ Giáo viên nhiệt tình làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo phục vụ cho việc cung cấp và phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

+ Trẻ đi học đều, đúng giờ nên lớp luôn đạt tỉ lệ chuyên cần cao.

+ Đa số trẻ của lớp nhanh nhẹn, sức khỏe tốt để tham gia vào các hoạt động của lứa tuổi.

+ Giáo viên trong lớp có trình độ đại học. Được sự ủng hộ nhiệt tình của phụ huynh

- Về phụ huynh:

+  Một số phụ huynh nhiệt tình chia sẻ với giáo viên ở lớp về tình hình của trẻ ở nhà và luôn quan tâm đến trẻ thường xuyên dành thời gian trao đổi với cô giáo để cùng chăm sóc và giáo dục trẻ.

     2. Khó khăn:

         - Vì nhiểu trẻ mới bắt đầu đi học nên còn khóc nhiều chưa thích nghi với điều kiện sinh hoạt của lớp nên còn bỡ ngỡ. Mỗi cháu lại có những sở thích và cá tính khác nhau.

- Trí nhớ của trẻ còn nhiều hạn chế, trẻ chưa nhớ hết trật tự của các âm khi sắp xếp thành câu vì thế trẻ thường xuyên bỏ bớt từ, bớt âm khi nói.

- 60% trẻ phát âm chưa chính xác hay ngọng  chữ x - s, dấu ngã - dấu sắc, dấu hỏi – dấu nặng.

     3. Khảo sát thực trạng

Khảo sát đầu năm

Phân loại khả năng

Tốt

Khá

TB

Yếu

Sl

%

Sl

%

Sl

%

Sl

%

Khả năng nghe hiểu ngôn ngữ  

5

19,2

8

30,8

10

38,4

3

11,6

Vốn từ

5

19,2

6

23,1

9

34,6

6

23,1

Khả năng nói đúng ngữ pháp

4

15,4

7

27

10

38,4

5

19,2

Khả năng giao tiếp

5

19,2

8

30,8

8

30,8

5

19,2

Khả năng phát âm chuẩn

6

23,1

5

19,2

9

34,6

6

23,1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

     III/. Các biện pháp thực hiện

     1/ Biện pháp 1: Sưu tầm tài liệu

1. Chương trình chăm sóc trẻ nhà trẻ.

3. Tạp chí Giáo dục - mầm non.

4 .Tâm lý học trẻ em.

5. Hướng dẫn, tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non theo chủ đề (trẻ 24- 36 tháng tuổi).

6. Một số tài liệu tham khảo khác như đài, báo, tivi.

     2 /Biện pháp 2 Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơ i

     2 .1. Giờ đón trẻ:

     Giờ đón trẻ là lúc cần tạo không khí vui vẻ, lôi cuốn trẻ tới trường , tới lớp cô phải thật gần gũi, tích cực trò chuyện với trẻ.Vì trò chuyện với trẻ là hình thức đơn giản nhất để cung cấp vốn từ cho trẻ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là ngôn ngữ mạch lạc. Bởi qua cách trò chuyện với trẻ cô mới có thể cung cấp, mở rộng vốn từ cho trẻ.

    VD: Cô trò chuyện với trẻ về gia đình của trẻ:

      + Gia đình con có những ai?

      + Trong gia đình ai yêu con nhất?

      + Mẹ yêu con như thế nào?

      + Buổi sáng ai đưa con đến lớp?

      + Bố con đưa đi bằng phương tiện gì?

- Như vậy khi  trò chuyện với cô  trẻ tự tin vào vốn từ của mình, ngôn ngữ của trẻ nhờ đó mà được mở rộng và phát triển hơn.

- Ngoài ra trong giờ đón trẻ , trả trẻ tôi luôn nhắc trẻ biết chào ông, bà , bố , mẹ  như vậy kích thích trẻ trả lời câu trọn vẹn bên cạnh đó giáo dục trẻ có thói quen lễ phép , biết vâng lời.

     2.2. Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động góc

     Trong một giờ hoạt động chung trẻ không thể phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện được mà phải thông qua các hoạt động khác trong đó có hoạt động góc. Đây có thể coi là một hình thức quan trọng nhất , bởi giờ chơi có tác dụng rất lớn trong việc phát triển vốn từ, đặc biệt là tích cực hoá vốn từ cho trẻ.Thời gian chơi của trẻ chiếm nhiều nhất trong thời gian trẻ ở nhà trẻ, là thời gian trẻ được chơi thoải mái nhất. Trong qúa trình trẻ chơi sử dụng các loại từ khác nhau, có điều kiện học và sử dụng các từ có nội dung khác nhau.

         VD1 :  Trò chơi trong góc “bé chơi với búp bê” trẻ được chơi với em búp bê và khi trẻ chơi sẽ giao tiếp với các bạn bằng ngôn ngữ hàng ngày.

          + Con đã cho búp bê ăn chưa?  ( Chưa ạ)

          + Khi ăn con nhớ đeo yếm để bột không dây ra áo của búp bê nhé(Vâng ạ)       

          + Ngoan nào mẹ cho búp bê ăn nhé!

          + Bột vẫn còn nóng lắm để mẹ thổi cho nguội đã !(Giả vờ thổi cho nguội)

          + Búp bê của mẹ ăn ngoan rồi mẹ cho búp bê đi chơi nhé!!                                                                        (Âu yếm em búp bê)

  • Qua giờ chơi cô  không những dạy trẻ kỹ năng sống mà còn dạy trẻ nghe, hiểu giao tiếp cùng nhau và trao cho nhau những tình cảm yêu thương , gắn bó của con người

    VD2: Trong góc “ Hoạt động với đồ vật” trẻ chơi bằng đồ dùng tự tạo đó chính là những bông hoa đã đục sẵn lỗ, tôi đã cho trẻ lấy dây xâu qua những lỗ đó và tôi sẽ hỏi trẻ:

        + Linh ơi, con đang xâu gì vậy? (Xâu vòng ạ)

        + Con xâu hình bằng gì đấy?(Xâu bằng dây ạ)

         + My ơi, vòng tay này đã đeo được chưa? (Chưa ạ)

         + Muốn đeo được phải làm thế nào? (Phải buộc lại ạ)

       + Khi xâu xong con để sản phẩm của mình nhẹ nhàng vào khay nhé!(Vâng)

    VD3: Ở góc “ Tạo hình” bằng miếng xốp thừa tôi đã  tận dụng cắt thành hình những cái lá để cho trẻ dán lên cành cây tự tạo. Trẻ sẽ được dán những chiếc lá đủ màu sắc, kích thước tạo lên những bông hoa đẹp và rực rỡ sắc màu. Tôi thấy trẻ rất khéo léo, chăm chú khi làm . Khi trẻ làm tôi ân cần đến bên trẻ trò chuyện cùng trẻ:

        + Con đang làm gì vậy? (Dán lá cây ạ)

        + Bông hoa có màu gì? (Màu đỏ ạ)

            + Lá hoa của con có màu gì? (Màu xanh ạ)

        + Con dán lá cho bông hoa rồi cắm vào lọ để bày cho đẹp nhé

  - Như vậy bằng những đồ chơi tự tạo thông qua hoạt động chơi không những rèn cho trẻ sự khéo léo mà còn góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

     2.3. Giáo dục ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời

- Hàng ngày đi dạo chơi quanh sân trường tôi thường xuyên đặt câu hỏi để trẻ được gọi tên các đồ chơi quanh sân trường như : Đu quay, cầu trượt , bập bênh….

Ngoài ra tôi còn giới thiệu cho trẻ biết cây xanh, cây hoa ở quanh trường, lớp và hỏi trẻ:

             + Bông hoa này có màu gì?  ( Trẻ trả lời màu đỏ)

             + Cây hoa đồng tiền có lá màu gì? ( Màu xanh ạ)

             + Cây hoa này dùng để làm gì?            

 * Giáo dục:

             + Các con không được hái  hoa, bẻ cành mà phải tưới cây để cây mau lớn nhé!  ( Vâng ạ)

       -  Qua những câu hỏi cô đặt ra sẽ giúp trẻ tích luỹ được những vốn từ mới ngoài ra còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ chính xác, mạch lạc , rõ ràng hơn.

      -  Ở lứa tuổi này trẻ nhiều khi hay hỏi và trả lời trống không hoặc nói những câu không có nghĩa. Vì vậy bản thân tôi luôn chú ý lắng nghe và nhắc nhở trẻ, nói mẫu cho trẻ nghe và yêu cầu trẻ nhắc lại.

     3/ Bi ện pháp 3: Giáo dục ngôn ngữ thông qua các hoạt động khác

     3.1 Thông qua hoạt động nhận biết:

      Đây là môn học quan trọng nhất đối với sự phát triển ngôn ngữ và cung cấp vốn từ vựng cho trẻ.

      Trẻ ở lứa tuổi 24-36 tháng đang bắt đầu học nói, bộ máy phát âm chưa hoàn chỉnh, vì vậy trẻ thường nói không đủ từ, nói ngọng, nói lắp. Cho nên trong tiết dạy cô phải chuẩn bị đồ dùng trực quan đẹp, hấp dẫn để gây hứng thú cho trẻ. Bên cạnh đó cô phải chuẩn bị một hệ thống câu hỏi rõ ràng ngắn gọn trong khi trẻ trả lời cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ, đủ câu không nói cộc lốc.

  VD1: Trong bài nhận biết ” Quả Cam” cô muốn cung cấp cho trẻ biết trong quả cam có những gì thì cô phải chuẩn bị một quả cam chưa bổ và 1 quả cam đã bổ để cho trẻ quan sát. Trẻ sẽ sử dụng các giác quan như: sờ, nhìn, ngửi…..nhằm phát huy tính tích cực của tư duy, rèn khả năng ghi nhớ có chủ đích.

   - Để giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát cô cần đưa ra hệ thống câu hỏi:

         + Đây là quả gì?  ( Quả cam ạ)

         + Các con nhìn xem quả cam có vỏ màu gì? ( Màu vàng ạ)

         + Các con ơi, trong quả cam có gì nhỉ?  (Có hạt cam  ạ)

         + Đố các bạn biết cam chín có vị gì?   ( Ngọt ạ)

- Trong khi trẻ trả lời cô phải chú ý đến câu trả lời của trẻ. Trẻ phải nói được cả câu theo yêu cầu câu hỏi của cô. Nếu trẻ nói cộc lốc , thiếu từ cô phải sửa ngay cho trẻ.

     VD2 :Hoạt động nhận biết “ Ô tô”

     Khi vào bài tôi đặt câu đố: “ Xe gì bốn bánh

                                               Chạy ở trên đường

                                               Còi kêu bim bim

                                               Chở hàng chở khách”   ( Ô tô)

  • Trẻ trả lời đó là ô tô tôi đưa chiếc ô tô cho trẻ xem và hỏi:

               + Xe gì đây?           ( Ô tô ạ )

               + Ô tô có màu gì?   (  Màu đỏ ạ )

               + Ô tô đi ở đâu?      ( Ô tô đi ở trên đường ạ)

               + Ô tô dùng để làm gì?  ( Dùng để đi ạ)

               + Còi ô tô kêu như thế nào?   ( bíp bíp..)

               + Đây là cái gì? ( Cô hỏi từng bộ phận của ô tô và yêu cầu trẻ trả lời)

  -  Cứ như vậy tôi đặt hệ thống câu hỏi từ tổng thể đến chi tiết để trẻ trả lời nhằm kích thích trẻ phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ, qua đó lồng liên hệ thực tế giáo dục trẻ về an toàn giao thông khi đi trên đường.

VD 3: Trong bài nhận biết ” Con Vịt” tôi đã sử dụng con Vịt  thật, cô muốn cung cấp cho trẻ biết con vịt có những bộ phận gì, tác dụng của những bộ phận đó, tiếng kêu của con vịt con như thế nào, Vịt sống và hoạt động ở môi trường nào, trẻ được quan sát trực tiếp…..nhằm phát huy tính tích cực của tư duy, rèn khả năng ghi nhớ có chủ đích.

- Để giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát cô cần đưa ra hệ thống câu hỏi:

         + Đây là con gì?  (  “Con Vịt ạ”)

         + Các con nhìn xem con Vịt có nhưng bộ phận  gì? ( Đầu vịt, mình vịt, đuôi vịt ạ)

         + Các con ơi, lông con vịt có màu gì, có mịn không?  (màu vàng, rất mịn mềm mượt ạ)

+ Vịt hoạt động ở dưới nước sẽ như thế nào?

         + Vịt kêu như thế nào   ( Vít vít)

     3.2. Thông qua hoạt động làm quen văn học

     Trên tiết học khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ và còn hình thành phát triển ở trẻ kỹ năng nói mạch lạc mà muốn làm được như vậy trẻ phải có vốn từ phong phú hay nói cách khác là trẻ cũng được học thêm được các từ mới qua giờ học thơ, truyện.

      Để giờ thơ, truyện đạt kết quả cao cũng như hình thành ngôn ngữ cho trẻ thì đồ dùng phục vụ cho tiết học phải đảm bảo:

         + Đồ dùng phải đẹp, màu sắc phù hợp đảm bảo tính an toàn và vệ sinh cho trẻ.

         + Nếu là tranh vẽ phải đẹp, phù hợp với câu truyện, phía dưới phải có chữ to giúp cho việc phát triển vốn từ của trẻ được thuận lợi.

          + Bản thân giáo viên phải thuộc truyện, ngôn ngữ của cô phải trong sáng, giọng đọc phải diễn cảm, thể hiện đúng ngữ điệu của các nhân vật.

             VD1: Trẻ nghe câu truyện “ Đôi bạn nhỏ”. Tôi cung cấp vốn từ cho trẻ đó là từ “Bới đất”. Cô có thể cho trẻ xem tranh mô hình một chú gà đang lấy chân để bới đất tìm giun và giải thích cho trẻ hiểu từ “Bới đất”: Các con ạ , bản năng của những chú gà là mỗi khi đi kiếm ăn các chú phải lấy chân để bới đất, đào đất lên để tìm thức ăn cho mình , khi kiếm được thức ăn chú gà sẽ lấy mỏ để ăn đấy.

 Sau khi giải thích tôi cũng chuẩn bị một hệ thống câu hỏi giúp trẻ nhớ được nội dung truyện và từ vừa học:

         + Hai bạn Gà và Vịt trong câu truyện cô kể rủ nhau đi đâu?( Đi kiếm ăn ạ)

         + Vịt kiếm ăn ở đâu? ( Dưới ao  )

         + Thế còn bạn Gà kiếm ăn ở đâu? ( Trên bãi cỏ)

         + Bạn Gà kiếm ăn như thế nào? ( Bới đất tìm giun  )

         + Khi hai bạn đang kiếm ăn thì con gì xuất hiện đuổi bắt Gà con?

(Con Cáo)

          + Vịt con đã cứu Gà con như thế nào?(Gà nhảy phốc lên lưng Vịt, Vịt bơi ra xa).

          + Qua câu truyện con thấy tình bạn của hai bạn Gà và Vịt ra sao?( Thương yêu nhau)

       + Nếu như bạn gặp khó khăn thì các con phải làm gì? ( Giúp đỡ bạn ạ).

      - Cô kể 1-2 lần cho trẻ nghe giúp trẻ hiểu thêm về tác phẩm và qua đó lấy nhân vật để giáo dục trẻ  phải biết yêu thương và giúp đỡ bạn trong lúc gặp khó khăn.

VD2: Qua bài thơ “ Cây bắp cải ” tôi muốn cung cấp cho trẻ từ “ Sắp vòng quanh”. Tôi chuẩn bị một chiếc bắp cải thật để cho trẻ quan sát, trẻ phải được nhìn, sờ, ngửi…..và qua vật thật tôi sẽ giải thích cho trẻ từ “ sắp vòng quanh”.

       - Tôi giải thích cho trẻ :  Các con nhìn này đây là cây bắp cải mà hàng ngày mẹ vẫn mua về để nấu cho các con ăn đấy. Các con  nhìn xem lá bắp cải rất to có màu xanh và khi cây bắp cải càng lớn thì lá càng cuộn thành vòng tròn xếp chồng lên nhau lá non thì nằm ở bên trong được bao bọc bằng những lớp lá già ở ngoài . Bên cạnh đó tôi cũng chuẩn bị câu hỏi để trẻ trả lời:

         + Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì? (Cây bắp cải ạ)

         + Cây bắp cải trong bài thơ được miêu tả đẹp như thế nào?(Xanh man mát)

         + Còn lá bắp cải được nhà thơ miêu tả ra sao? ( Sắp vòng quanh ạ)

         + Búp cải non thì nằm ở đâu?   ( Nằm ở